Examples of using Nucleon in Vietnamese and their translations into English
{-}
-
Colloquial
-
Ecclesiastic
-
Computer
khi được tạo thành, vì thế chúng không thể rời nucleon đi đâu xa được.
Nó có khả năng cho va chạm bất kì nguyên tố nào thuộc hệ thống tuần hoàn lên tới năng lượng 100 GeV/ nucleon.
Trong trường hợp các nucleon- proton và neutron- năng lượng liên kết QCD tạo thành khoảng 99% khối lượng của nucleon.
lên năng lượng 158 GeV/ nucleon.
Vào tháng 6 năm 2000, những va chạm đầu tiên với ion vàng 56 GeV/ nucleon đã được ghi nhận.
Cặp Nucleon" dùng để chỉ các hiệu ứng ghép cặp nucleon ảnh hưởng mạnh đến tính chất của một hạt nhân.
Vào năm 1963, khi tôi gắn tên gọi" quark" cho các thành phần cơ bản của nucleon, tôi đã nghe thấy âm thanh đầu tiên, mà chưa viết ra, có thể là" kwork".
Cả hai đồng vị tự nhiên này có năng lượng kết nối hạt nhân thấp bất ngờ tính theo mỗi nucleon(~ 5.3 MeV)
Cả hai nucleon đều có các phản hạt tương ứng:
Năm 1963, khi tôi gán ghép cái tên“ quark” cho những thành phần sơ cấp của nucleon, tôi đã có thanh âm trước tiên, không phải đánh vần, có thể là“ kwork”.
Sự hình thành của các nguyên tố có nhiều hơn bảy nucleon cần phản ứng hợp hạch giữa ba nguyên tử He- 4 trong quá trình ba alpha, bỏ qua liti, berili và bo để tạo ra cacbon.
Sự phóng neutron ra có thể là một sản phẩm của sự chuyển động của nhiều nucleon, nhưng cuối cùng nó được thực hiện bởi tác động dạng xung của lực hạt nhân, tồn tại ở khoảng cách cực ngắn giữa các nucleon.
Tên gọi“ lepton” được đề xuất làm một đối trọng với nucleon, tên gọi chỉ các hạt cấu tạo nên hạt nhân nguyên tử, theo tài liệu tiểu sử của Abraham Pais.
Những kết quả mới cho thấy chừng 200 nucleon bên trong các hạt nhân platinum được nghiên cứu tác dụng theo kiểu hợp xướng để biểu hiện các tính chất đều đặn chứ không hỗn loạn”, theo một bài báo đưa tin trên website của ORNL.
thẳng hiện có và synchrotron vào đầu những năm 1970 dùng cho gia tốc các ion nặng lên khoảng 2.000 MeV trên mỗi nucleon.
Nghiên cứu thêm sau đó tìm thấy rằng có ít nhất ba vị trí tại đó các electron bị tán xạ nhiều hơn kì vọng bên trong nucleon hay lõi của những nguyên tử này, nghĩa là có cái gì đó gây ra sự tán xạ như thế.
Việc sử dụng từ“ baryon” xuất hiện vào năm 1953, khi nhà vật lí Abraham Pais đề xuất nó trong một bài báo làm tên gọi cho nucleon và các hạt nặng khác.
Synchrotron Berkeley ngày nay đã ngừng hoạt động nhưng sychrotron SIS dùng cho ion nặng ở Darmstadt cung cấp từ năm 1990 các ion có năng lượng lên tới 1.000 MeV trên mỗi nucleon và được dùng cho nghiên cứu vật lí thuần túy và vật lí ứng dụng.
spin quark đã đóng góp khoảng 30% vào tổng số spin của nucleon.
Tuy nhiên, không ai cho thấy cả độ phân giải và khả năng liên kết sự truyền động lượng lớn quan sát được của các cặp proton- nơtron( hoặc cặp nucleon) với cấu trúc hạt nhân.